Bộ Công an gần đây đã công bo dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), trong đó điểm đáng chú ý là đề xuất nâng thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính lên mức 3 năm. Động thái này nhằm giải quyết triệt để tình trạng một số chủ phương tiện lợi dụng khoảng trống pháp lý giữa chu kỳ đăng kiểm và thời hạn xử phạt để trốn tránh nghĩa vụ nộp phạt.
Sự chênh lệch giữa chu kỳ kiểm định và thời hiệu xử phạt
Theo phân tích của Bộ Công an, thực tế triển khai công tác xử lý vi phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ thời gian qua cho thấy không ít trường hợp cố tình phớt lờ, không chấp hành thông báo giải quyết vi phạm từ cơ quan chức năng.
Dù Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ đã quy định rõ: Các cá nhân, tổ chức chưa hoàn thành nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính sẽ bị từ chối kiểm định phương tiện. Tuy nhiên, quy định này đang gặp vướng mắc lớn từ thực tiễn:
Ảnh được AI hỗ trợ thiết kế
Sự bất cân đối này tạo ra kẽ hở cho nhiều tài xế vi phạm lựa chọn giải pháp "chờ đợi". Họ cố tình kéo dài thời gian, đợi đến kỳ đăng kiểm tiếp theo khi thời hiệu xử phạt 1 năm đã chính thức hết hiệu lực nhằm né tránh quyết định xử phạt. Điều này làm suy giảm đáng kể hiệu lực răn đe của hệ thống camera giám sát vi phạm (phạt nguội) bằng thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ.
Vì vậy, việc nâng thời hiệu xử phạt lên 3 năm được đánh giá là bước đi cần thiết nhằm đảm bảo nguyên tắc mọi hành vi vi phạm đều phải bị xử lý nghiêm minh, ngăn chặn tình trạng "lọt lưới" do hết thời hiệu.
Bên cạnh đó, dự thảo cũng quy định rõ thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính như sau:
Ảnh được AI hỗ trợ thiết kế
Ngoài ra, tại điểm d khoản 1 Điều 6 dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính, trường hợp cá nhân, tổ chức có hành vi cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc phạt.
Đẩy mạnh xử lý vi phạm hành chính toàn trình trên môi trường điện tử
Cũng trong dự thảo sửa đổi lần này, Bộ Công an đã đưa ra đề xuất chuyển đổi số toàn diện công tác xử lý vi phạm. Cụ thể, khi các điều kiện hạ tầng kỹ thuật và công nghệ thông tin được đáp ứng đầy đủ, toàn bộ trình tự, thủ tục xử lý vi phạm hành chính sẽ được thực hiện toàn trình trên môi trường điện tử.
Cụ thể, các cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu về xử lý vi phạm hành chính và cơ sở dữ liệu liên quan đến các cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính để thực hiện các trình tự, thủ tục xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử;
Kết nối, đồng bộ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Ứng dụng định danh điện tử (VNeID).
Việc xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
Tuân thủ quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật về giao dịch điện tử và pháp luật có liên quan;
Việc thu thập, lưu trữ, khai thác, sử dụng dữ liệu phải bảo đảm tính toàn vẹn, xác thực, an toàn, đúng mục đích, phạm vi theo quy định của pháp luật;
Kết nối hệ thống, chia sẻ dữ liệu, cung cấp thông tin chính xác, kịp thời phục vụ quản lý nhà nước và giám sát của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
Bên cạnh đó, dự thảo luật cũng yêu cầu toàn bộ thông tin, dữ liệu trong quá trình xử lý vi phạm trên môi trường điện tử phải được lưu trữ đầy đủ, phục vụ công tác thanh tra, giám sát, hướng tới bảo đảm tính khách quan, công khai và minh bạch tối đa.