Pháo tự hành ASU-85 được phát triển cho Lực lượng Nhảy dù Liên Xô, chính thức đưa vào biên chế ngày 6/8/1958. Theo tiêu chuẩn thời đó, khi trang thiết bị quân sự được sản xuất theo lô hàng nghìn chiếc thì ASU-85 chỉ có tổng cộng khoảng 500 đơn vị.
Một đặc điểm độc đáo của phương tiện chiến đấu này là khả năng được thả dù từ máy bay vận tải quân sự.
Tuy nhiên, chỉ có An-22 và Il-76 là phù hợp với phương án này, trong khi chiếc An-12 chỉ có thể hạ cánh xuống đường băng.
ASU-85 được trang bị pháo chính D-70 cỡ 85mm. Đạn của nó có thể xuyên thủng lớp thép đồng nhất (RHA) dày 185mm ở cự ly 1.000m. Đạn nổ mảnh đạt tầm xa lên đến 13.500m khi bắn gián tiếp. Lượng đạn dự trữ gồm 45 viên dạng nguyên khối.
Góc nâng hạ của nòng pháo dao động từ -5 đến +15 độ, góc xoay ngang 30 độ. Vũ khí phụ bao gồm 1 khẩu súng máy phòng không DShK 12,7mm và 1 khẩu súng máy đồng trục SGMT 7,62mm.
Lớp giáp phía trước dày 45mm và được đặt nghiêng một góc 60 độ. Động cơ 2 thì của YaAZ-206V sản sinh công suất 210 mã lực.
Tốc độ tối đa của nó đạt 45km/h trên đường cao tốc và khoảng 30km/h trên địa hình gồ ghề; tầm hoạt động đạt 360km; trọng lượng chiến đấu ở mức 15.500km; kíp lái gồm 4 người.
Pháo tự hành đổ bộ đường không ASU-85 được Liên Xô sản xuất với số lượng tương đối nhỏ.
Pháo tự hành ASU-85 đã được triển khai trong Chiến dịch Danube của Khối Hiệp ước Warsaw, khi can thiệp vào Tiệp Khắc tháng 8/1968.
Vũ khí này cũng là một phần của Lực lượng Nhảy dù trong thời gian triển khai Quân đội Liên Xô tại Afghanistan.
Lần cuối cùng chúng được nhìn thấy với số lượng tương đối nhiều là trong cuộc tập trận chiến lược quy mô lớn Zapad-81.
Sau khi đưa vào sử dụng cối 120mm 2S9 Nona-S, pháo tự hành ASU-85 bắt đầu được loại biên.